Bởi Heather Caitlin P. Mañago, Nhà nghiên cứu
Các ngân hàng lớn nhất PHILIPPINES chứng kiến tăng trưởng tài sản chậm lại trong quý thứ tư năm 2025 khi cho vay mở rộng với tốc độ chậm nhất trong chín quý, phản ánh sự suy giảm kinh tế rộng lớn hơn.
Phiên bản mới nhất của báo cáo ngân hàng hàng quý của BusinessWorld cho thấy tổng tài sản của 44 ngân hàng thương mại và đa năng tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước lên P28,92 nghìn tỷ trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 12 từ P26,64 nghìn tỷ một năm trước đó.
Mức tăng này chậm hơn so với mức tăng trưởng 10,02% trong quý thứ tư năm 2024, nhưng nhanh hơn mức 7,42% ghi nhận trong quý thứ ba.
Tăng trưởng tài sản của các ngân hàng lớn trong giai đoạn này là mạnh nhất trong hai quý hoặc kể từ mức mở rộng 9,05% trong quý thứ hai năm 2025.
Trong khi đó, tổng các khoản vay của các ngân hàng lớn nhất trong nước tăng 10,12% so với cùng kỳ năm trước lên P15,36 nghìn tỷ trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 12.
Mức mở rộng này chậm hơn so với mức tăng trưởng 13,59% trong cùng kỳ năm 2024 và mức 10,91% ghi nhận trong quý thứ ba năm 2025.
Tăng trưởng cho vay cũng yếu nhất trong chín quý hoặc kể từ mức 7,01% ghi nhận trong quý thứ ba năm 2023.
Hiệu suất khiêm tốn của các ngân hàng về tài sản và các khoản vay phù hợp với hoạt động kinh tế yếu hơn và lạm phát ở mức thấp trong quý cuối năm 2025.
Trong quý thứ tư, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quốc gia mở rộng 3% hàng năm, chậm hơn mức tăng trưởng 5,3% trong cùng kỳ năm ngoái và mức 3,9% được sửa đổi trong quý thứ ba năm 2025, trong bối cảnh một vụ bê bối tham nhũng.
Điều này đã đưa tăng trưởng GDP lên 4,4% trong năm 2025, chậm lại so với mức tăng trưởng 5,7% trong năm 2024.
Trong khi đó, lạm phát trong tháng 12 tăng lên 1,8%, nhanh hơn mức 1,5% trong tháng 11. Tuy nhiên, mức này chậm hơn so với 2,9% trong tháng 12 năm ngoái. Số liệu tháng 12 đã đưa lạm phát trung bình lên 1,7% trong năm 2025, giảm từ 3,2% trong năm 2024.
Tại cuộc họp tháng 12, Bangko Sentral ng Pilipinas (BSP) đã cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản để đưa lãi suất chủ chốt xuống 4,5% — mức thấpnhất trong hơn ba năm.
TỶ LỆ NPL GIẢM
Dữ liệu cũng cho thấy tỷ lệ nợ xấu so với tổng danh mục cho vay, còn được gọi là tỷ lệ nợ xấu (NPL), giảm xuống 3,07% trong quý thứ tư.
Mức này cũng thấp hơn so với 3,11% một năm trước đó và 3,49% trong quý thứ ba.
Các khoản vay được coi là nợ xấu nếu bất kỳ gốc và/hoặc lãi nào không được thanh toán trong hơn 90 ngày kể từ ngày đến hạn theo hợp đồng hoặc lãi suất tích lũy trong hơn 90 ngày đã được vốnhóa, tái cơ cấu hoặc hoãn lại theo thỏa thuận.
Trong khi đó, tỷ lệ lợi nhuận trung vị trên vốn chủ sở hữu (RoE) của các ngân hàng, là một chỉ số về khả năng sinh lời, giảm xuống 6,97% trong quý thứ tư từ 8,98% trong quý thứ tư năm 2024. RoE đo lường số tiền mà các cổ đông kiếm được trên mỗi peso họ đầu tư vào một công ty.
Ngoài ra, tỷ lệ an toàn vốn trung vị của các ngân hàng lớn nhất — phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc hấp thụ tổn thất từ tài sản có trọng số rủi ro — đạt 21,21% trong giai đoạn này.
Mức này cao hơn so với 20,73% ghi nhận trong cùng kỳ năm ngoái và 20,32% một quý trước đó.
Tỷ lệ này vẫn cao hơn nhiều so với mức tối thiểu quy định là 10% do BSP đặt ra cũng như tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế là 8% theo khuôn khổ Basel III.
Tỷ lệ đòn bẩy, đo lường khả năng của tổ chức trong việc hấp thụ các cú sốc bằng cách đo lường vốn của ngân hàng so với tổng rủi ro, đạt mức trung vị là 11,73% tính đến cuối tháng 12. Con số hiện tại vượt quá hướng dẫn 5% của ngân hàng trung ương cũng như tiêu chuẩn quốc tế là 3%.
Trong khi đó, biên lãi suất ròng (NIM) của các ngân hàng lớn này đạt 3,99%, cao hơn so với 4,13% một năm trước đó.
NIM là một chỉ số về hiệu quả đầu tư của ngân hàng bằng cách chia thu nhập lãi ròng hàng năm cho tài sản sinh lời trung bình.
Trong giai đoạn này, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản, đo lường lợi nhuận được tạo ra trên mỗi peso của một tài sản, giảm xuống 1,44% từ 1,55% trong quý thứ tư năm 2024.
NGÂN HÀNG LỚN NHẤT
Trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 12, BDO Unibank, Inc. (BDO) vẫn là ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản với P5,41 nghìn tỷ, tiếp theo là Metropolitan Bank & Trust Co. (Metrobank) với P3,92 nghìn tỷ và Bank of the Philippine Islands (BPI) với P3,71 nghìn tỷ.
Trong cho vay, ngân hàng do nhà Sy lãnh đạo cũng dẫn đầu ngành với P3,64 nghìn tỷ các khoản vay được phát hành, tiếp theo là BPI với P2,6 nghìn tỷ và Metrobank với P1,97 nghìn tỷ.
Về tiền gửi, BDO cũng có số tiền gửi lớn nhất với P4,19 nghìn tỷ, tiếp theo là Land Bank of the Philippines với P3,12 nghìn tỷ và BPI với P2,84 nghìn tỷ.
Trong số các ngân hàng có ít nhất P100 tỷ tài sản, MUFG Bank Ltd. ghi nhận tăng trưởng tài sản nhanh nhất so với cùng kỳ năm trước với 30,96%, tiếp theo là Philippine Bank of Communications (17,68%), và Asia United Bank Corp. (12,72%).
Mặt khác, MUFG Bank Ltd. cũng là ngân hàng cho vay tích cực nhất với tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước là 19,57%, tiếp theo là Bank of Commerce với 19,43% và East West Banking Corp. với 15,04%.
BusinessWorld Research đã theo dõi hiệu suất tài chính của các ngân hàng lớn trong nước hàng quý kể từ cuối những năm 1980 bằng cách sử dụng các báo cáo được công bố của các ngân hàng.


